|
Tuần
Việt Nam giới thiệu bài viết của nhóm tác giả Dương Danh Huy - Lê Minh
Phiếu như một góc nhìn riêng để tham khảo. Bài viết này cũng đã được
đọc tại Hội thảo hè tháng 8/2009.
Trong năm 2009,
cuộc đàm phán phân định chủ quyền và khảo sát chung
trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung
Quốc sẽ bước sang vòng thứ 6. Cuộc đàm phán này được
tiến hành lần đầu tiên vào hai ngày 18-19/1/20061, và cho tới ngày 6/1/2009 hai bên đã trải qua 5 vòng đàm phán2.
Nếu vòng đàm phán thứ 6 là một bước lớn đi đến kết quả thì nó sẽ là một
trong những diễn biến quan trọng nhất liên quan đến tranh chấp biển
Đông.
Vùng biển được đàm phán, theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, là “đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng”3.
Trong khu vực này, bờ biển Việt Nam và Trung Quốc cách nhau dưới 400
hải lý. Vì vậy, chiếu theo UNCLOS, ranh giới được đàm phán là ranh giới
vùng đặc quyền kinh tế.
Trong quá trình đàm phán, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt”4, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán”5
và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung. Tuyên bố chung của Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo ngày 25/10/2008 nói: “Hai
bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực
ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát
triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này”6.
Chủ trương của
Trung Quốc đối với Biển Đông nói chung là gác
vấn đề tranh chấp chủ quyền, phân định chủ quyền
sang một bên và cùng các nuớc trong tranh chấp khai thác kinh tế.
Ngược lại, là nước nhỏ, nhu cầu của Việt Nam là “rào dậu tốt
tạo láng giềng tốt”. Vì vậy, Việt Nam đang ở trong thế muốn phân định
chủ quyền một cách công bằng trong khi Trung Quốc không thật sự muốn.
Nhưng theo chúng tôi:
-
Thứ nhất, chỉ có
việc phân định chủ quyền một cách công bằng, chứ không phải là khai
thác chung, mới có thể là giải pháp cơ bản, lâu dài. Khai thác chung
trong khi chưa phân định chủ quyền chỉ có thể là giải pháp tạm thời.
Cụ thể, nếu vùng
khai thác chung là vùng thuộc Việt Nam theo luật quốc
tế thì việc khai thác chung không thể nào được xem
là công bằng.
Nếu
lý lẽ chủ quyền của hai bên có cơ sở pháp lý tương đương
và vùng tranh chấp có diện tích nhỏ thì hai bên có thể chấp nhận khai
thác chung, vì bất công cho một trong hai nước sẽ tương đối nhỏ7.
Nhưng nếu vùng tranh
chấp có diện tích lớn và lý lẽ của một bên
quá vô lý thì việc khai thác chung là một điều hoàn
toàn bất công cho bên kia.
Trong khu vực
từ Vịnh Bắc Bộ đến Hoàng Sa, yêu sách của Trung Quốc
về chủ quyền đối với Hoàng Sa là vô lý, yêu
sách về các vùng biển được cho là thuộc Hoàng Sa cũng
vô lý, yêu sách về vùng biển nằm trong đường lưỡi bò càng vô
lý. Bằng các yêu sách vô lý đó, Trung Quốc tranh chấp một vùng biển rất
rộng lớn của Việt Nam. Việc khai thác chung trong vùng tranh chấp, nếu
có, là hoàn toàn bất công cho Việt Nam.
Vì vậy, những
nguyên tắc công bằng cho việc phân định vùng biển giữa hai bên vừa
có ý nghĩa quan trọng cho việc xác định chủ quyền, vừa là tiền đề của
việc khảo sát, khai thác chung nếu hai bên cùng mong muốn. Vì vậy, bài
viết này tập trung vào các nguyên tắc để phân định chủ quyền một cách
công bằng.
 |
|
Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ - một số thử thách mà Việt Nam đang đối diện trong đàm phán. |
Việc phân định
chủ quyền trong vùng biển từ Vịnh Bắc Bộ tớI Hoàng Sa
có một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết
tranh chấp trên Biển Đông vì 3 lý do cơ bản sau:
-
Nó sẽ định đoạt ranh giới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
-
Phương pháp phân
định ranh giới này và vị trí của ranh giới từ phương pháp này có thể
định hướng cho việc phân định ranh giới tiếp nối cho vùng đặc quyền
kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông. Cụ thể, nếu Việt Nam không đạt được
sự công bằng trong cuộc đàm phán này thì sự không công bằng đó có thể
sẽ là tiền lệ cho nguyên tắc phân định các vùng biển khác; và có thể
dẫn tới một địa điểm khởi đầu bất lợi cho ranh giới trong các vùng biển
khác đó.
-
Cuộc đàm phán để
phân định chủ quyền có khía cạnh liên quan tới chủ quyền đối với Hoàng
Sa vốn đã bị Trung Quốc chiếm đóng và đang trong tình trạng tranh chấp.
Tuy nhiên, cuộc
đàm phán này lại phức tạp hơn những cuộc đàm phán trước đây để
phân định ranh giới với với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ, ranh
giới với Thái Lan và với Indonesia.
Đây là lần đầu tiên Việt
Nam đàm phán trong một khu vực có quần đảo trong tình trạng tranh chấp
chủ quyền. Không những thế, những đảo này đang bị Trung Quốc chiếm đóng.
Đây cũng là lần đầu tiên
Việt Nam đàm phán với Trung Quốc để phân định một khu vực trong biển
Đông, nơi Trung Quốc đòi hỏi 75% diện tích bằng “đường lưỡi bò”. Trong
quá trình đàm phán, có nhiều khả năng là Trung Quốc sẽ đòi hỏi ranh
giới dựa trên đường lưỡi bò. Đòi hỏi đó, vốn trái với UNCLOS, là vô lý,
và cuộc đàm phán sẽ không thể nào có kết quả công bằng nếu dựa trên nó.
Để có thể có một cuộc đàm phán dựa trên sự công bằng, dựa trên luật
pháp quốc tế liên quan, Trung Quốc phải từ bỏ việc yêu sách đường lưỡi
bò.
Điều đáng lo ngại cho
cuộc đàm phán này nói riêng và cho tình hình Biển Đông nói chung là các
diễn biến gần đây, ví dụ như liên quan đến việc đăng ký thềm lục địa
với Liên Hiệp Quốc và việc Trung Quốc cấm đánh cá hàng năm trên nửa
diện tích Biển Đông, cho thấy Trung Quốc đang leo thang trong việc thực
hiện yêu sách đường lưỡi bò.
Trong trường hợp Trung
Quốc không dùng đường lưỡi bò trong đàm phán nhưng đòi hỏi hiệp
định ghi nhận rằng Trung Quốc bảo lưu cái gọi là “quyền lịch sử” của
nước này, Việt Nam cũng cần phải thận trọng về sự “bảo lưu” này vì
“quyền lịch sử” có thể được Trung Quốc dùng để ám chỉ đường lưỡi bò.
Ngoài những khía
cạnh trên, vì đường lưỡi bò hoàn toàn không có cơ sở pháp lý hay
công lý, bài viết này sẽ không dùng nó trong các phân tích mà chỉ tập
trung vào những nguyên tắc của luật pháp quốc tế.
Vùng
biển được đàm phán có hai phần có tính chất khác
nhau: khu vực biển không thuộc Hoàng Sa, nằm phía cửa Vịnh Bắc Bộ, và
khu vực biển thuộc Hoàng Sa, bao quanh quần đảo Hoàng Sa.
Cuộc đàm phán
để phân định biển chỉ có thể phân định khu
vực biển không thuộc Hoàng Sa. Khu vực biển thuộc Hoàng Sa phải thuộc
về nước có chủ quyền đối với Hoàng Sa. Vì vấn
đề chủ quyền đốI vớI Hoàng Sa chưa được giải quyết, một trong những
khía cạnh quan trọng của cuộc đàm phán là xác định khu vực biển nào
không thuộc Hoàng Sa, khu vực nào thuộc Hoàng Sa.
Khu vực biển không thuộc Hoàng Sa
Trong khu vực biển không
thuộc Hoàng Sa, bờ biển Việt Nam và bờ biển Trung Quốc đối diện nhau và
có chiều dài tương đương. Vì vậy, chiếu theo các án lệ của Toà án Công
lý Quốc tế và tập quán quốc tế, đường trung tuyến giữa bờ biển của hai
nước sẽ là ranh giới công bằng, như phần Tây Bắc của đường đỏ trong Bản
đồ 1.
Trên thực tế, trong
quá khứ Trung Quốc đã từng đòi hỏi những vùng biển vượt
qua đường trung tuyến, lấn về phía Việt Nam.
Năm 2004 Trung
Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực
có toạ độ 17°26′42″ Bắc, 108°19′05″ Đông, cách Việt Nam
63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý8.
Vì khu vực này cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý
(xem bản đồ 1), khu vực này không thể thuộc Hoàng Sa. Bộ Ngoại giao
Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất
là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn
toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”9.
Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng khu vực này nằm bên
Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bô, do đó Trung Quốc cho
rằng sự phản đối của Việt Nam “không có cơ sở và không thể chấp nhận
được”10.
Cho tới nay Công ty Dầu
khí Hải dương Trung Quốc đã công bố một
số lô dầu khí vượt qua đường trung tuyến, lấn
về phía Việt Nam (xem Bản đồ 1). Trong những lô dầu khí này,
vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên
Việt Nam của đường trung tuyến.
Theo bản đồ năm 2002 của Công
ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang bị Trung
Quốc khai thác. Vùng lấn sang bên Việt Nam này nằm ngoài tầm ảnh hưởng
của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của
Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng
Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.
 |
|
Bản
đồ 2: Bản đồ của Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc. Vào năm
2002, hai vùng dầu khí LD29-1 (nằm phía Việt Nam của đường trung tuyến)
và LD20-1 (nằm vắt ngang đường trung tuyến) bắt đầu bị Trung Quốc khai
thác. |
Việc Trung Quốc
đòi hỏi chủ quyền đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải
lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và
đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam
phải đối diện trong đàm phán.
Trong khu vực biển không
thuộc Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt
được một hiệp định ranh giới biển công bằng.
Khu vực biển thuộc Hoàng Sa
Trong khu vực biển thuộc
Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc có thể dựa vào tuyên
bố chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng
nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế lấn sâu vào bên kia đường
trung tuyến.
Trên thực tế, ngày
15/5/1996 Trung Quốc công bố một đạo luật xác định
đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi rằng khu vực
bên trong đường cơ sở, có diện tích 17.400 km², là nội
thuỷ và khu vực 12 hải lý bên ngoài đường cơ sở đó là lãnh hải của họ11, mặc dù đường cơ sở đó vi phạm UNCLOS12. Những vùng nội thuỷ và lãnh hải này lấn sâu vào bên Việt Nam của đường trung tuyến, như trong Bản đồ 3.
Trung Quốc cũng có
thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn nữa và lấn sâu
vào phía Việt Nam hơn nữa. Thí dụ, ngay cả trong trường hợp Trung Quốc
không dùng đường lưỡi bò, họ có thể đòi hỏi tối đa rằng ranh giới vùng
đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến giữa đường cơ sở thẳng họ tuyên
bố chung quanh Hoàng Sa và những vùng lãnh thổ khác của Việt Nam, như
đường xanh lá cây trong Bản đồ 3. Đòi hỏi đó sẽ phi pháp và bất công vì
3 lý do:
-
Quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa là bất hợp pháp.
-
Đương cơ sở thẳng Trung Quốc tuyên bố xung quanh Hoàng Sa vi phạm UNCLOS.
-
Theo tập quán quốc tế
và các phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế, các đảo nhỏ như các đảo
thuộc quần đảo Hoàng Sa thường không được hay chỉ được ít hiệu lực
trong việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục
địa.
 |
|
Bản đồ 3:
Trung Quốc có thể đòi hỏi một cách tối đa rằng đường xanh lá cây là
ranh giới vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc đã đòi hỏi rằng hình đa
giác là nội thuỷ và vùng biển rộng 12 hải lý bên ngoài hinh đa giác là
lãnh hải của nước này. | Nếu
Việt Nam chấp nhận đòi hỏi này hay bất cứ đòi hỏi nào của
Trung Quốc để lấn sang đường trung tuyến, vùng đặc quyền kinh
tế mà Việt Nam được hưởng sẽ bị thu hẹp. Thêm nữa
có thể thấy từ Bản đồ 3 rằng sự thu hẹp đó sẽ dẫn
tới thiệt thòi cho Việt Nam nếu trong tương lai có đàm phán phân định
các vùng biển nối tiếp về phía Nam. Ngoài ra, nếu chấp nhận như thế thì
có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với
Hoàng Sa.
Trong
khả năng ngược lại, Việt Nam cũng có thể dựa vào chủ quyền đối với
Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên Trung Quốc của đường trung
tuyến.
 |
|
Bản đồ 4:
Lãnh hải 12 hải lý thuộc Hoàng Sa có thể là các hình tròn nhỏ. Đường
tím là đường trung tuyến giữa các đảo Hoàng Sa và Trung Quốc. |
Trước tiên, Việt Nam
có thể đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý thuộc các đảo
Hoàng Sa, thí dụ như trong Bản đồ 4.
Kế tiếp, Việt Nam
có thể đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo
Hoàng Sa. Trên lý thuyết, Việt Nam có thể đòi hỏi một cách tối đa
rằng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là đường trung tuyến giữa các đảo
Hoàng Sa tên mức thuỷ triều cao và đảo Hải Nam. Đòi hỏi tối đa đó sẽ
không công bằng vì theo tập quán quốc tế và các phán quyết của Toà án
Công lý Quốc tế, các đảo nhỏ như các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa thường
không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc phân định ranh giới vùng
đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
Tuy nhiên, trong bối
cảnh Trung Quốc là nước có nhiều sức mạnh và
là nước đang chiếm đóng Hoàng Sa, mặc dù việc chiếm đóng đó
là bất hợp pháp chiếu theo luật quốc tế, sẽ khó xảy ra khả năng Trung
Quốc chấp nhận những yêu sách của Việt Nam để lấn sang đường trung
tuyến, nhất là những yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế.
Trước thử thách
này, trước khi vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa được giải quyết một
cách công bằng và hợp pháp, ví dụ như bởi Toà án Công lý Quốc tế, Việt
Nam khó có thể đạt được sự công bằng về vùng biển thuộc Hoàng Sa.
Sự lựa chọn chính và khó khăn nhất cho Việt Nam là giữa 2 giải pháp sau:
-
Rút lui ra khỏi đàm phán; hay:
-
Chỉ đàm phán
phân định khu vực không thuộc Hoàng Sa. Hoàng Sa và vùng biển bao
quanh Hoàng Sa tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Nhược điểm của giải pháp
(1) nêu trên là sẽ không có ranh giới vùng đặc quyền
kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc trong khu vực
từ cửa Vịnh Bắc Bộ đến Hoàng Sa.
Nhược điểm của giải pháp
(2) nêu trên là, trên thực tế, Hoàng Sa và khu vực thuộc Hoàng Sa
sẽ tiếp tục nằm dưới sự kiểm soát bất hợp pháp của Trung Quốc cho
đến khi nào vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa được giải
quyết một cách công bằng và hợp pháp. Và trong tương lai, chúng ta
không biết được Trung Quốc có sẵn sàng chấp nhận đàm phán chủ quyền đối
với Hoàng Sa và khu vực biển bao quanh Hoàng Sa hay không.
Trong trường hợp phải
chọn giải pháp (2) nêu trên, Việt Nam cần phải đòi hỏi một phạm
vi cho khu vực thuộc Hoàng Sa sao cho giảm tối thiểu thiệt hại.
Ngoài ra, có thể chọn một giải pháp dung hoà giữa 2 giải pháp trên:
-
Đàm phán phân định vùng biển nằm gần cửa Vịnh Bắc Bộ, cách xa Hoàng Sa và chắc chắn không thuộc Hoàng Sa.
-
Không đàm phán phân định vùng biển nằm gần Hoàng Sa.
-
Không công nhận
rằng vùng biển thứ nhì có thuộc Hoàng Sa hay không. Vùng biển thứ nhì
sẽ tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Trong bất kỳ
trường hợp nào, Việt Nam không thể chấp nhận bất cứ điều nào
trong hiệp định có thể bị cho là chấp nhận
yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa.
Xác định khu vực biển thuộc Hoàng Sa
Vì Trung Quốc
là nước có nhiều sức mạnh và là nước đang
chiếm đóng Hoàng Sa, trong khi vấn đề chủ
quyền đối với Hoàng Sa chưa được giải quyết, việc đòi
hỏi rằng khu vực biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối đa,
thí dụ như với đường cơ sở thẳng và với vùng
đặc quyền kinh tế từ đường cơ sở đó ra tới trung tuyến giữa Hoàng Sa và
các vùng lãnh thổ khác, đương nhiên sẽ có lợi tối đa cho Trung Quốc.
Đòi hỏi đó sẽ là cớ để Trung Quốc khống chế một vùng biển có diện tích
tối đa. Như vậy sẽ thiệt hại tối đa cho Việt Nam. Tuy nhiên, như đã lập
luận, việc vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa và đòi vùng đặc
quyền kinh tế như trên là trái với UNCLOS và tập quán quốc tế.
Nếu Việt Nam cũng
có quan điểm như Trung Quốc, tức là đòi hỏi rằng khu vực
biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối đa, Việt Nam sẽ bị thiệt hại trong
hiện tại, và nếu trong tương lai Việt Nam giành lại được Hoàng Sa thì
sẽ có nhiều lợi ích trong tương lai. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, việc đỏi
hỏi như thế sẽ không phù hợp với tập quán quốc tế và các án lệ của Toà
án Công lý Quốc tế.
Nếu Việt Nam đòi hỏi
rằng vùng biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối thiểu, Việt Nam
sẽ giảm thiệt hại trong hiện tại và chấp nhận rằng nếu trong
tương lai Việt Nam giành lại được Hoàng Sa thì lợi ích
cũng sẽ giảm.
Tồn tại hai yếu tố trong việc lựa chọn phạm vi tối thiểu hay phạm vi tối đa cho khu vực biển thuộc Hoàng Sa:
-
Sự công bằng:
Theo ý kiến của các tác giả, phạm vi tối thiểu sẽ phù hợp với tập quán
quốc tế hơn, phù hợp với các phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế hơn13, và sẽ công bằng hơn, thí dụ như:
-
Không vẽ đường cơ sở thằng xung quanh quần đảo Hoàng Sa;
-
Các đảo thuộc
quần đảo Hoàng Sa là những đảo nhỏ, xa bờ và, thêm nữa, trong tình
trạng tranh chấp chủ quyền. Để tuân thủ sự công bằng mà UNCLOS quy
định, các bên sẽ không trao quy chế vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo
thuộc Hoàng Sa.
-
Như vậy, khu vực biển thuộc Hoàng Sa sẽ bao gồm lãnh hải 12 hải lý, thí dụ như các vòng tròn nhỏ trong Bản đồ 4.
-
Lợi ích quốc gia: Việc
lựa chọn giữa hai phạm vi trên cũng là sự cân nhắc giữa hai khía cạnh:
một mặt là Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa và khống chế vùng biển
thuộc Hoàng Sa, một mặt là khả năng Việt Nam giành lại được Hoàng Sa
trong tương lai.
Giữa phạm vi tối thiểu
và phạm vi tối đa, tồn tại nhiều cách khác để xác định khu
vực biển thuộc Hoàng Sa. Bên cạnh tôn trọng sự công bằng, Việt Nam phải
cân nhắc phạm vi nào cho khu vực biển thuộc Hoàng Sa sẽ có lợi nhất cho
Việt Nam.
Theo những nguyên tắc được Toà án Công lý Quốc tế xác định14,
cách tốt nhất để đi tới giải pháp công bằng là vẽ đường trung tuyến
giữa các vùng lãnh thổ khác của Việt Nam và các vùng lãnh thổ khác của
Trung Quốc, không tính quần đảo Hoàng Sa, để đi tới một ranh giới thử
nghiệm cho vùng đặc quyền kinh tế. Sau đó, nếu cần thiết cho sự công
bằng, ranh giới thử nghiệm này có thể được điều chỉnh như một cách để
cho quần đảo Hoàng Sa một hiệu lực nào đó trong việc tính vùng đặc
quyền kinh tế.
Trên thực tế, Việt Nam
không thể chấp nhận việc xê dịch ranh giới thử nghiệm
về phía mình, mà Trung Quốc cũng sẽ không chấp nhận
việc xê dịch đó về phía họ. Vì vậy, đường trung tuyến không tính quần
đảo Hoàng Sa vừa là phạm vi tối thiểu mà Việt Nam có thể chấp nhận cho
vùng đặc quyền kinh tế, vừa là phạm vi tối đa mà Việt Nam có thể thực
hiện được. Theo ý kiến của các tác giả, giải pháp công bằng tối đa mà
Việt Nam có thể thực hiện được là:
Tất nhiên Trung Quốc
sẽ không chấp nhận rằng Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải
lý thuộc Hoàng Sa là của Việt Nam. Nếu Trung Quốc
là nước tôn trọng sự công bằng, họ
có thể chấp nhận giải pháp trung gian sau:
Vì Trung Quốc
đã tuyên bố đường cơ sở thẳng và lãnh hải xung
quanh Hoàng Sa lấn sang đường trung tuyến, khả năng là Trung
Quốc cũng sẽ không chấp nhận rằng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế là
đường trung tuyến. Trong trường hợp này, theo ý kiến của các tác giả,
giải pháp tạm thời công bằng là:
-
Hai nước dùng đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa như ranh giới tạm thời cho vùng đặc quyền kinh tế.
-
Các đảo Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý của chúng tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Trong trường hợp Việt
Nam và Trung Quốc không giải quyết được sự bất đồng
ý kiến, theo ý kiến của các tác giả, giải pháp tạm thời công
bằng là:
-
Hai nước dùng
đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa như ranh giới tạm thời
cho vùng đặc quyền kinh tế. Ranh giới này sẽ được điều chỉnh lại sau
khi vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa và phạm vi khu vực biển thuộc
Hoàng Sa được giải quyết.
-
Các đảo Hoàng Sa và lãnh hải 12 hải lý của chúng tiếp tục nằm trong tình trạng tranh chấp.
Nếu Việt Nam và
Trung Quốc có khảo sát hay khai thác chung trước khi
chủ quyền được phân định, vùng hợp tác phải nằm vắt
ngang đường trung tuyến này một cách đồng đều thì mới công bằng.
Trong bất kỳ
trường hợp nào, Việt Nam không thể chấp nhận bất cứ điều nào
trong hiệp định có thể bị cho là chấp nhận
yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa.
Cách vẽ đường trung tuyến
Ngay cả trong việc
vẽ đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa, có thể tồn tại sự
khác biệt ý kiến giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mỗi bên sẽ đòi hỏi cách
vẽ đường trung tuyến có lợi nhất cho mình.
Một trong những cách để
vẽ đường trung tuyến là vẽ đường trung tuyến
giữa đường cơ sở của hai nước. Vì đường cơ sở của Việt
Nam vừa nằm xa bờ hơn đường cơ sở của Trung Quốc vừa có thể không phù
hợp với UNCLOS, khả năng là Trung Quốc sẽ không chấp nhận cách này.
Trung Quốc có
thể đòi hỏi vẽ đường trung tuyến giữa đường
cơ sở của nước này và bờ biển Việt Nam. Vì đường cơ
sở của Trung Quốc xung quanh đảo Hải Nam có lấn ra biển ít nhiều, Việt
Nam không thể chấp nhận cách này.
Cách vẽ đường trung
tuyến công bằng nhất là vẽ đường trung tuyến giữa
bờ biển hai nước, không tính Hoàng Sa nhưng tính các đảo gần
bờ của mỗi nước. Tuy nhiên, có thể tồn tại sự khác biệt ý kiến ngay cả
trong cách thứ ba này.
Nếu mũi Đà Nẵng, mũi Hải Vân, đảo Lý Sơn (diện tích 11 km², dân số 20.000)15, và cù lao Chàm (diện tích 15 km², dân số 3,000)16 của Việt Nam được dùng trong việc vẽ đường trung tuyến thì đường trung tuyến sẽ như trong Bản đồ 5.
 |
|
Bản đồ 5: Đường trung tuyến không tính Hoàng Sa, cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 100% hiệu lực. |
Nếu đảo
Lý Sơn và cù lao Chàm chỉ được 50% hiệu lực trong
việc vẽ trung tuyến, điều này tương đương với việc “dời” hai đảo
này vào bờ 50% khoảng cách trên thực tế, thì đường trung tuyến sẽ như
trong Bản đồ 6.
 |
|
Bản đồ 6: Đường trung tuyến không tính Hoàng Sa, cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 50% hiệu lực. |
Theo ý kiến của các tác giả,
-
Mũi Đà Nẵng và mũi Hải Vân hoàn toàn đáp ứng những điều kiện để được dùng trong việc vẽ đường trung tuyến.
-
Đảo Lý Sơn và cù
lao Chàm hoàn toàn đáp ứng quy chế đảo theo Điều 121 của UNCLOS và nằm
gần bờ Việt Nam. Hai đảo này nên được dùng để vẽ đường trung tuyến, hay
phải được ít nhất là 50% hiệu lực. Lưu ý là trong hiệp định Vịnh Bắc Bộ
đảo Cồn Cỏ (diện tích 2.5 km², dự kiến là tới năm 2010 sẽ đạt dân số
600)17 được hưởng 50% hiệu lực dù đảo này nhỏ hơn và có dân số thấp hơn đảo Lý Sơn và cù lao Chàm.
Vì vậy, theo
ý kiến của các tác giả, trong trường hợp không tính Hoàng Sa, một
ranh giới công bằng phải nằm giữa đường màu xanh và đường
màu đỏ trong Bản đồ 7.
 |
|
Bản đồ 7:
Nếu vùng biển thuộc Hoàng Sa có phạm vi tối thiểu, ranh giới công bằng
phải nằm giữa đường đỏ (cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 100% hiệu lực)
và đường xanh (cù lao Chàm và đảo Lý Sơn được 50% hiệu lực). |
Trong việc vẽ
đường trung tuyến, Trung Quốc có thể đòi hỏi không dùng
mũi Đà Nẵng, mũi Hải Vân, đảo Lý Sơn, và cù lao Chàm của Việt Nam,
hoặc chỉ cho những vùng lãnh thổ này ít hiệu lực. Thêm vào đó, Trung
Quốc có thể đòi hỏi dùng các mũi và đảo nhỏ dọc bờ biển đảo Hải Nam,
thí dụ như các mũi trong khu vực Tam Á. Những đòi hỏi như vậy nhằm đẩy
ranh giới về phía Việt Nam và sẽ bất công cho Việt Nam.
Trong mọi trường hợp,
Việt Nam phải đứng vững trước mọi sức ép để
có thể đạt được một ranh giới công bằng.
Kết luận
Phân tích này cho thấy,
đằng sau các tuyên bố chung của Việt Nam và Trung Quốc, vẫn
tồn tại nhiều lựa chọn khó khăn và nhiều thử thách để Việt Nam đạt được
sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc
trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
Theo ý kiến của các
tác giả, sự lựa chọn khó khăn nhất cho Việt Nam là rút lui ra
khỏi đàm phán hay chỉ đàm phán phân định vùng biển không thuộc Hoàng Sa
hay chọn một giải pháp dung hoà. Dân tộc Việt Nam phải lựa chọn giữa
các giải pháp này.
Hơn lúc nào
hết, chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán
phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu
thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những lựa chọn khó
khăn và thử thách đất nước đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy. Ý
chí và kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều
này sẽ giúp Việt Nam lựa chọn và đối phó với những thử thách nhằm bảo
toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.
- Dương Danh Huy - Lê Minh Phiếu (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
|