Hoa-Việt trong Thế Cân Bằng Quyền Lực

Châu Á Thái B́nh Dương

Huỳnh Công Luận

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/China-60years-anniversary-MLam-10012009152703.html/China-60years-anniversary-305.jpgCộng ḥa nhân dân Trung Hoa vừa kỹ niệm 60 năm Quốc Khánh ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại Quảng trường Thiên An Môn với những thành tựu mà quốc gia này đă đạt được.

AFP PHOTO

Ṛng ră 60 năm đó, đảng CS Trung Hoa luôn quyện chặt Việt Nam vào các bước thăng trầm của anh hàng xóm khổng lồ trong ư đồ bành trướng, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các nước có cùng biên giới với họ. Chúng ta sẽ ôn lại quá tŕnh “b́nh thiên hạ” của Hán Tộc gần đây để hiểu rơ chủ nghĩa chủng tộc núp phía sau thuyết “Tu-Tề-Trị-B́nh” của Khổng Tử. Chúng ta cũng sẽ ôn lại cách đối phó của Tổ Tiên chúng ta để khỏi bị đồng hóa. Và sau cùng, t́m ra thế “Cân Bằng Quyền Lực” để sinh tồn.

Quá Tŕnh “B́nh Thiên Hạ” của Hán Tộc.

Trung Hoa tuy có nền văn minh rất sớm nhưng họ đă đoán sai: “trái đất h́nh vuông” mặc dù họ đă định được bốn phương tám hướng và lập ra Bát Quái Đồ làm căn bản cho khoa Thiên Văn, Địa Lư. Họ đă tự đặt nước họ vào vị trí trung tâm của quả cầu h́nh vuông ấy. Chỉ cái tên Trung Hoa (Chúng Quả) thôi, người Hán đă biểu lộ tánh cực kỳ kiêu ngạo như nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy đă đề cập trong bài tham luận “Trung Quốc 'bao giờ cũng đúng'? của ông: Các hoàng đế Trung Hoa luôn coi mình là trung tâm của thế giới. Trung Quốc là nước ở giữa, ở đó có con trời (Thiên tử) cai trị muôn dân. Các nước xung quanh theo thứ tự được phân chia thành đông Di, tây Địch, bắc Nhung, nam Man.

Mấy tỉnh miền nam Trung Quốc ngày nay và Việt Nam được “vinh dự” thuộc hàng ngũ “nam Man” - là phiên thuộc, là chư hầu của Thiên tử. Xin lưu ư là 3 trong 4 chữ Hán: Di, Địch, Nhung, Man nói trên, có tới 3 chữ có bộ thú chỉ thú vật ở bên cạnh.” [1]

Ngay cả Phát Xít Đức cũng chỉ tự coi chủng tộc ḿnh là vô địch chứ chưa dám coi các dân tộc khác là loài cầm thú như người Hoa.

Anthony Wong trong vai Hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh, người đánh Việt Nam năm 1406 với chiêu bài Phù Trần diệt HồTừ tính kiêu ngạo tột cùng ấy, vua chúa Trung Hoa có một chính sách bành trướng và đồng hóa tàn bạo nhứt trong lịch sử nhơn loại. Chúng ta hăy nghe lời kể của ông Dương Danh Dy:

Không biết tên gọi của bao nhiêu nước đă biến mất trên bản đồ Trung Quốc để lănh thổ nước này từ chỗ chỉ có mấy vùng đất không lớn lắm ở một phần lưu vực thuộc sông Hoàng Hà nay đă mênh mông rộng tới 9,6 triệu km2?

Không biết bao nhiêu dân tộc đă bị đồng hoá, kể cả dân tộc đă từng vào thống trị Trung nguyên xây dựng nên triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc mà nay chỉ c̣n chưa tới một trăm người nói và viết thành thạo tiếng mẹ đẻ?

Tất cả quá tŕnh bành trướng lănh thổ, đồng hóa dân tộc bằng thủ đoạn tàn bạo hay kế độc mưu sâu đều được che đậy, mỹ hoá bằng những câu chữ tuyệt đẹp: “mở mang bờ cơi", "hoà hợp dân tộc"…

Chính các vị “Thiên Tử” ấy đă bày ra không biết bao h́nh phạt kinh hoàng để bắt kẻ bị trị phải khuất phục; nào là “tru di tam tộc” (một người phạm tội th́ bị giết cả ba họ), bỏ tử tội vô vạc dầu sôi, hoặc cho voi dày ngựa xé; vua chết phải chôn hàng trăm người sống theo để hầu hạ… Trong thời Mao Trạch Đông, việc chôn sống tập thể là chuyện b́nh thường. Mới 2 thập niên trước đây, trước sự bàng hoàng của thế giới văn minh, họ đă dùng xe tăng và quân đội sát hại hàng vạn sinh viên đ̣i “Dân Chủ”, tại nơi mà họ vừa kỹ niệm 60 năm để vừa răn đe các mầm loạn bên trong vừa hù dọa lân quốc và thế giới bên ngoài.

   

H́nh phạt của Thiên Tử Đặng Tiểu B́nh trong kế sách “b́nh thiên hạ” tại THIÊN AN Môn (h́nh Wall Street Journal)

Từ 2,5 thiên niên kỷ trước, Khổng Tử (551 trước Công Nguyên), đă dùng thuyết chính danh: Tu, Tề, Trị, B́nh để gồm thâu thiên hạ về một mối, trong đó Hán tộc là chúa tể. Trung Quốc ngày nay gồm 56 dân tộc và theo điều tra dân số năm 2000, số dân sắc tộc là khoảng 104 triệu, bằng 9% tổng số dân cả nước.

Như vậy, nhờ “b́nh thiên hạ” mà từ một nhóm nhỏ ở trung nguyên, người Hán đă chiếm tới 91% tổng số mà họ có bây giờ. Vậy mà Hồ Cẩm Đào c̣n gấp rút thiết lập các Học Viện Khổng Tử ở qui mô toàn cầu trong đó có Việt Nam để tiếp tục “b́nh thiên hạ” trên các phần c̣n lại của thế giới trong thế kỷ tới. V́ sao vậy?

V́: “Mặc dù đất rộng như vậy, người ta vẫn đang kêu rên là một trong mấy nước bị mất nhiều lănh thổ nhất thế giới, phía nào cũng mất đất thậm chí c̣n ‘mất cả phần đất thuộc nguyên một nước bây giờ’ ”.

Chỉ trong ba thập niên, họ đă gây ra ba cuộc chiến biên giới với Ấn Độ (1962), Liên Xô (1969), Việt Nam (1979) và  hai cuộc hải chiến với riêng Việt Nam (1973 và 1989) để gồm thâu đất đai, biển cả và hải đảo trong kế sách “b́nh thiên hạ” của Khổng Khâu.

Mặc dù đă có tới hơn 2 triệu km2 lănh hải, họ vẫn đang rêu rao “c̣n mất khoảng 1,2 triệu km2 biển nữa (trong đó có khoảng 800.000km2 tại Biển Đông).”

Lạng SơnTrong các cuộc xâm lăng, “lần nào họ cũng chủ động đánh trước nhưng lại kêu la rằng ‘ḿnh là người bị hại’ ”; và con cháu của Khổng Phu Tử “lúc nào cũng tự coi ḿnh là người duy nhất đúng trong mọi chuyện bang giao.”

<=Con cháu Khổng Tử đang “b́nh thiên hạ” tại VN (1979)

Ông Dương Danh Dy kể tiếp:

“Người Việt Nam không thể nào quên được cuộc Chiến tranh Biên giới năm 1979, khi họ tung 60 vạn quân chủ lực, mở cuộc tấn công trên suốt sáu tỉnh biên giới, giết hại dă man người Việt, phá hoại nặng nề cơ sở vật chất của nhân dân Việt Nam mà lại rêu rao là “đánh trả tự vệ”, là để “dạy cho Việt Nam bài học”.

Chỉ có những kẻ không c̣n lương tri hay những người đầu óc có vấn đề mới có thể nghe lọt tai những luận điệu đó.

Lại c̣n chuyện này nữa: ai nâng đỡ, ai khuyến khích, ai cung cấp tiền của và phưong tiện để Khmer Đỏ gây ra nạn diệt chủng tại Campuchia?

Thế mà thoắt một cái họ đă biến ḿnh thành “cứu tinh”, thành người “bạn tốt” của đất nước đau thương ấy.”

Thử hỏi, trên thế gian này c̣n có dân tộc nào dám ngạo mạn, tàn ác và điêu ngoa hơn thế?

Tổ Tiên chúng ta đă đối phó chính sách “b́nh thiên hạ” của Hán Tộc ra sao?

Mặc dù bị đô hộ tổng cộng cả ngàn năm trong lịch sử 4,000 năm, Việt Nam vẫn không bị đồng hóa mà c̣n giữ được độc lập. Đó là nhờ Tổ Tiên chúng ta đă quyết liệt chống lại Hán tộc bằng ba phương tiện: độc lập về văn hóa, dùng ngôn ngữ riêng biệt và  nêu cao chí quật cường.

1.     Độc lập về văn hóa:

Tuy bị Bắc thuộc lâu dài và qua nhiều thời kỳ khác nhau, Tổ Tiên ta đă giữ được rất nhiều nét văn hóa riêng của ḿnh bằng cách pha trộn văn minh Ấn Độ, Chàm, và sau này ảnh hưởng lớn của văn hóa phương tây. Đặc biệt, văn hóa miền Bắc rất đa dạng; nó được kết tụ qua hàng ngàn năm lịch sử qua các phong tục như: nhuộm răng, ăn trầu, lễ hội Chùa Hương, giỗ tổ Hùng Vương, hội Lim, hội xuống đồng của người Tày. Ở các dân tộc miền núi c̣n có ngày hội t́nh yêu, đến mỗi dịp Xuân về những đôi trai gái tập trung lại chơi ném C̣n, hát Đối...

Xă thôn tự trị cũng là một nét đặc thù khác mà Tổ Tiên ta đă dựa vào đó để giữ được bản sắc dân tộc. Làng thường được bao bọc bởi lũy tre xanh; với cổng tam quan, đ́nh, chùa và các loại cây đa, dương, trôm và liễu làm tăng thêm vẽ đẹp của mỗi miền. Đ́nh làng là nơi thờ cúng các vị có công với làng nước, khi chết được vua ban sắc chỉ phong Thần; đ́nh cũng là nơi dân làng hội họp hoặc tổ chức các lễ hội của địa phương. Những người đứng đầu làng được mọi người tôn kính, thường là người già cả, hào phú và có học vị cao. Mỗi làng có những lệ riêng, phong tục tập quán mỗi nơi cũng khác và được lưu truyền qua nhiều thế hệ mà chính phủ trung ương ít khi can dự vào. Dân gian mới có câu “luật vua thua lệ làng” là vậy.

Dân Việt có quan niệm “ứng xử hài ḥa” với thiên nhiên do nông thôn là nền tảng văn hóa của ḿnh. Từ quan niệm đó, kinh thành Huế được xây dựng theo quan niệm hài ḥa với cảnh trí xung quanh. “Kiến trúc cung đ́nh Huế đă tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống Lư, Trần, Lê là tất yếu để chống sự đồng hoá và cũng chống sự lạc hậu nên đồng thời tiếp thu tinh hoa của mỹ thuật Trung Hoa nhưng đă được VN hóa một cách có ư thức dân tộc của các nghệ nhân từ các miền Nam Bắc quy tụ về xây dựng Kinh đô, kể cả những người thợ gốc Minh Hương Trung Quốc và Chămpa.  Đặc biệt đă được hiện đại hóa kỹ thuật của những công tŕnh sư người Pháp phục vụ dưới thời Gia Long, theo phương châm cơ bản tiếp thu có chọn lọc những kiến trúc thích nghi với tâm hồn người Việt và Việt hóa dần để phù hợp với tâm lư bản địa đem lại những đặc trưng bản sắc kiến trúc Huế.” [2]

Về tôn giáo cũng thế, Phật Giáo ở Việt Nam nặng về gốc nguyên thủy của Đạo Phật với 4 đặc điểm căn bản sau đây:

a.     Tự nương tựa chính ḿnh; làm theo lời Phật dạy thay v́ thờ lạy ngài để được chứng quả.

b.     Trí huệ là vĩnh cửu, danh lợi là vô thường.

c.      Tự thắng ḿnh là toàn thắng.

d.     Việc tu tập thiền định c̣n gọi là quán hơi thở, niệm hơi thở hoặc kiểm soát hơi thở chính là phương tiện tự giải thoát và ngộ Đạo của Phật. Ai cũng có thể làm được như vậy để thành Phật như ngài. Đạo Phật là một khoa học rốt ráo giúp con người thoát ra khỏi ṿng luân hồi sinh tử.[3]

          Phật Giáo ở Trung Hoa trái lại hoàn toàn biến chất, pha trộn với văn hóa thờ cúng. Hán Tộc đă biến tính khoa học của Phật Giáo thành công cụ mê tín dị đoan, mê hoặc ḷng người để hỗ trợ cho đường lối cai trị nghiệt ngă của các Thiên Tử phương Bắc. Nơi mà chùa chiền được xem trọng; người giàu có xây chùa, trọng tăng để được phước; phật tử hành hương lễ bái để được Phật độ. Cách tu ấy hoàn toàn khác với chủ trương của Đức Phật; thực tế chỉ là phương tiện ru ngủ, chống bạo loạn của người Hán mà thôi.

Xét toàn cảnh, từ thôn xă đến triều đ́nh và đạo pháp, dân tộc Việt luôn làm khác với người Hoa để tránh họa diệt chủng vậy.

2.     Dùng ngôn ngữ riêng biệt:

Khi chưa bị Pháp đô hộ, Tổ Tiên ta đă dùng chữ Nôm là loại chữ Hán phát âm kiểu phương Nam để chống lại chính sách đồng hóa về ngôn ngữ của Trung Hoa. Đến khi người Pháp sang cai trị Việt Nam, dân tộc Việt Nam đă may mắn tiếp thu các mẫu tự La Tinh (a,b,c,d…) qua các  nhà truyền đạo gịng Tên, trước tiên là những người Bồ Đào Nha (portuguais), sau là Alexandre Rhodes (1591-1660), một Cha Đạo người Pháp, “đă viết và in ra bài giảng “Phép giảng 8 ngày”: nguyên bản La Tinh, đối chiếu với bản dịch ra Việt ngữ viết bằng chính mẫu tự La Tinh ghép lại theo âm điệu của người bản xứ. Theo nhà sưu khảo Ngô Văn Tạo th́:

Đó là cơ sở giúp người Việt chúng ta tiếp nhận văn minh Tây phương. Văn học gia Petrus Trương Vĩnh Kư (1837-1898) đă t́nh nguyện từ bỏ trường tu đạo, mà ở đó ông đă học Pháp Văn, Hán Văn, chữ Nôm và Quốc ngữ, để giảng dạy chữ Quốc ngữ ( trong trường Thông Ngôn, 1862 – trường thông ngôn đầu tiên của chính quyền Pháp ở Nam Việt Nam ), và viết những bài văn Quốc ngữ trên tờ báo Gia Định Báo (1865), tờ báo đầu tiên với ba thứ tiếng Quốc Ngữ, Pháp Văn và Hán Việt. Trương Vĩnh Kư cũng là người đầu tiên truyền bá Kim Vân Kiều, bản mà ông đă phiên âm từ chữ Nôm ra Quốc ngữ! Công lao lớn lao trong thời sơ khai đó, phải nói tới Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), người đă tra cứu thiết lập Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (khiêm tốn không phải là Tự Điển, nhưng đến ngày nay vẫn c̣n có giá trị như Tự điển tiếng Việt Nam Quốc ngữ). Thế hệ ngay sau là Phan Châu Trinh, của phong trào Duy Tân, sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục (1904) trường truyền bá Quốc Ngữ, là Nguyễn Văn Vĩnh, chủ nhiệm báo Đại Nam Đăng Cổ tùng báo (1906), tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở ngoài bắc, tận tụy tâm trí truyền bá Quốc ngữ. Có lẽ hai người đánh dấu nhất trong sự phổ thông Quốc ngữ trên toàn quốc đầu thế kỷ thứ hai mươi , sau Trương Vĩnh Kư ở trong Nam thế kỷ thứ mười chín, là Phạm Quỳnh (1892-1945), 17 năm làm chủ nhiệm tờ báo Nam Phong ( circa1917-1937), xứng danh là tờ báo mở kỷ nguyên Quốc ngữ của văn học Việt Nam; người thứ hai là Phan Khôi (1887-1959), nhà báo nhà biện luận, tác giả bài thơ mới lăng mạn đầu tiên của văn học Việt Nam : Tinh Già (1932), những bài báo với lời văn tân tiến sắc bén ngay từ những năm 1930 cho tận cuối đời ( thời kỳ vụ án Nhân Văn 1956 ở Hà Nội).[4]

Việt Nam đă hoàn toàn thoát khỏi nguy cơ bị đồng hóa về ngôn ngữ của người Hán và trở thành quốc gia duy nhứt có ngôn ngữ bằng mẫu tự La Tinh trong vùng.

Vậy mà gần đây người ta lại hối hả thành lập trường dạy tiếng Hoa ngang bậc Đại Học với cái tên làm cho mọi người phải giật ḿnh hồi tưởng quá tŕnh “b́nh thiên hạ” của Bắc phương, đó là “Học Viện Khổng Tử” (HVKT). Chúng ta hăy cùng nghe bà Jocelyn Chey, một nhà cựu ngoại giao Úc hiện đang là giảng sư của Đại Học Sydney cảnh báo:

 Jocelyn Chey

 “Các ĐH nên cảnh giác đối với những sai lệch có thể xảy ra nếu các HVKT này trở nên năng động hơn trong các chương tŕnh nghiên cứu và giảng dạy của ḿnh.  Các HVKT, với lời hứa hẹn sẽ rèn luyện và đào tạo tư cách và vốn luyến (xin sữa: liếng) sinh ngữ của các nhà ngoại giao và chính trị gia tương lai, đă biểu lộ khả năng thiết lập kế hoạch đường dài của Trung Quốc; một khả năng giống như những ǵ tổ sư đă dạy.  Khổng Tử đă từng nói, “Nếu anh suy nghĩ bằng khoảng cách thời gian của 1 năm, hăy gieo một hạt giống; nếu bằng khoảng cách thời gian của 10 năm, hăy trồng các cây giống; nếu bằng khoảng cách thời gian của 100 năm, hăy dạy cho người ta.” [5]

Bà Jocelyn hoàn toàn đúng; 100 năm trước họ chưa có HVKT, vậy mà chỉ trước đây 1 năm thôi, con cháu Khổng Tử đă chiếm đa số trong nội các tŕnh Vua của chính trị gia người Thái gốc Hoa Thaksin ở Thái Lan; khiến Vua Bhumibol Adulyadej phải bàng hoàng ra lịnh cho quân đội đảo chánh để tránh họa “b́nh thiên hạ” của những người “khách trú” không mời mà đến một cách ḥa b́nh.

          Các thế hệ con dân VN, ai được bước đến bực thềm của Học Viện Khổng Tử hăy luôn nhớ lời cảnh báo của Bà Jocelyn và hành động kịp thời của Vua Thái Lan.

3.     Nêu cao chí quật cường:

Tuy là một quốc gia không lớn, người không đông, Việt Nam có nhiều phen v́ thế yếu phải thần phục Bắc Triều; nhưng khi có thời cơ, cả dân tộc luôn biểu lộ ư chí quật cường, thoát ṿng nô lệ.

Chúng ta hăy lắng nghe lời dạy con của ông Bảng Nhăn Nguyễn Phi Khanh tại Ải Nam Quan: “Con phải trở về mà lo trả thù cho cha rửa thẹn cho nước, chớ đi theo khóc lóc mà làm ǵ.” Tiến Sĩ Nguyễn Trăi đă nghe lời cha quay trở lại và ngày đêm lo việc phục thù, ra giúp B́nh Định Vương Lê Lợi dẹp tan giặc Minh, viết ra bài B́nh Ngô Đại Cáo để đời.

Trong thời buổi: “Tuấn kiệt như sao sáng sớm, nhân tài như lá mùa thu. Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần. Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.” (B́nh Ngô Đại Cáo), Lê Lai đă v́ nước liều thân cứu chúa, đổi mạng ḿnh để đại nghiệp được thành.

Trên đây mới chỉ là hai trường hợp điển h́nh trong hàng triệu tấm gương quật cường của dân tộc Việt.

Lời dạy con của Nguyễn Phi Khanh và tấm gương hy sinh v́ đại nghĩa của Lê Lai luôn ngời sáng trong lịch sử Việt Nam. Hai tấm gương ấy há chẳng đủ cho mọi tầng lớp con dân VN ngày nay suy gẫm sao?

 

Hăy tạo thế “Cân Bằng Quyền Lực” để Sinh Tồn

Trong quá tŕnh giữ nước, chúng ta phải quan tâm hai điều:

1.     Dùng ngoại giao và quân sự để cân bằng ngoại lực; nghĩa là phải liên lập với quốc gia hùng mạnh bằng hoặc hơn với quốc gia mà ḿnh phải đương đầu, đồng thời phải canh tân quân đội bằng phương tiện khác hơn quân đội sẽ đánh ḿnh.

2.     Dùng nội trị khôn ngoan để dưỡng dân, tu chỉnh và kết tụ nội lực để vừa tránh bị lạc hậu, vừa có đủ sức đối kháng và chịu đựng khi xảy ra chiến tranh.

Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết các vấn đề này trong một đề tài kế tiếp: “Thế Cân Bằng Quyền Lực cho Châu Á Thái B́nh Dương.”

Tài Liệu tham khảo:

[1] Dương Danh Dy; “Trung Quốc 'bao giờ cũng đúng'?” BBC, ngày thứ ba, 29 tháng 9, 2009.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/09/090929_china_foreignpolicy.shtml

[2] vn.net, Nghệ thuật kiến trúc – Cung Đ́nh Huế

http://www.vn.net/article.php/20071010080718559

[3]  Nguyễn Đạt Nhân; Phục Hưng Đạo Phật.

[4] Ngô Văn Tạo; Chữ Nôm và Quốc Ngữ

http://ngovantao.blogspot.com/2009/08/chu-nom-va-quoc-ngu.html

[5] Jocelyn Chey; Con Rng Ḥa Nhă và Hc Vin Khng T

Dàn Chim Việt; http://danchimviet.com/articles/1283/1/Con-Rng-Hoa-Nha-va-Hc-Vin-Khng-T/Page1.html

o O o

www.LMDCVN.com